Nibbāna và Nibbida


Thông Báo của Chủ nhiệm trang toaikhanh.com

Xin quý đọc giả đặc biệt lưu ý:
  1. Sư Giác Nguyên không quản lý và hoàn toàn không chịu trách nhiệm về trang toaikhanh.com.
  2. Cao-Xuân Kiên là chủ nhiệm, thiết lập, quản lý, và chịu trách nhiệm cho bất cứ những sai lạc về thông tin bài vở trên trang này.
  3. Khi cần chia sẻ những bài từ trang này chúng tôi kính xin quý vị giữ tên người chép bài và nêu rõ bài có thể bị thiếu sót vì còn là bản nháp chưa được hiệu đính.
  4. Hiện nay toaikhanh.com không có và không liên hệ với bất cứ trang hay nhóm nào trên mạng xã hội facebook.
  5. Nhắn riêng các vị có hảo tâm hỗ trợ cho trang toaikhanh.com kính mong quý vị tiếp tục công trình ghi chép bài giảng của chúng ta.
Xin chân thành cảm ơn quý phật tử.

Cao Xuân Kiên

Chủ nhiệm trang toaikhanh.com
Email: admin@toaikhanh.com


youtube
zoom
tk || bài giảng || suy gẫm || hỏi & đáp || kalama || hình ảnh || sách || english

Nibbāna và Nibbida

Trong bản dịch tiếng Việt của Kinh số 103, Kinh không có hạn chế, của Kinh Tăng Chi VI X, Phẩm Lợi Ích, có một cái nhầm lẫn lớn.

VIII. 103. Không Có Hạn Chế

Thấy được sáu lợi ích này, này các Tỷ-kheo, thật là vừa đủ để Tỷ-kheo làm cho an trú tưởng khổ, không có hạn chế trong tất cả hành. Thế nào là sáu? Trong tất cả hành, tưởng Niết-bàn sẽ được an trú trong tôi, ví như kẻ giết người đang đưa dao lên chém; ý của tôi sẽ xuất khỏi tất cả thế giới; tôi sẽ trở thành một người thấy được tịnh lạc trong Niết-bàn; các tùy miên trong tôi sẽ được nhổ lên; tôi sẽ là người đã làm các việc nên làm; tôi sẽ với từ tâm hầu hạ bậc Ðạo Sư. Thấy được sáu lợi ích này, này các Tỷ-kheo, thật là vừa đủ để Tỷ-kheo làm cho an trú tưởng khổ không có hạn chế trong tất cả hành.


8. 103. Ukkhittāsikasuttaṃ

‘‘Cha, bhikkhave, ānisaṃse sampassamānena alameva bhikkhunā sabbasaṅkhāresu anodhiṃ karitvā dukkhasaññaṃ upaṭṭhāpetuṃ. Katame cha? ‘Sabbasaṅkhāresu ca me nibbidasaññā paccupaṭṭhitā bhavissati, seyyathāpi ukkhittāsike vadhake. Sabbalokā ca me mano vuṭṭhahissati, nibbāne ca santadassāvī bhavissāmi, anusayā ca me samugghātaṃ gacchissanti, kiccakārī ca bhavissāmi, satthā ca me pariciṇṇo bhavissati mettāvatāyā’ti. Ime kho, bhikkhave, cha ānisaṃse sampassamānena alameva bhikkhunā sabbasaṅkhāresu anodhiṃ karitvā dukkhasaññaṃ upaṭṭhāpetu’’nti. Aṭṭhamaṃ.


103. With a Drawn Sword

“Monks, seeing six benefits is quite enough to establish the perception of suffering in all conditions without qualification. What six? ‘Perception of disenchantment will be established in me for all conditions, like a killer with a drawn sword.’ ‘My mind will rise above the whole world.’ ‘I will see nirvana as peaceful.’ ‘My underlying tendencies will be uprooted.’ ‘I will fulfill my duty.’ ‘I will have served my Teacher with love.’ Seeing these six benefits is quite enough to establish the perception of suffering in all conditions without qualification.

Bà con banh cái con mắt ra đọc mới thấy động trời. Ở trong bản tiếng Việt thì ghi như thế này: "Trong tất cả các hành tưởng niết bàn sẽ được an trú trong tôi". Nhưng mà thưa với bà con là ngày hôm qua tôi có hỏi bà con rồi, bà con thấy cái chữ nibbānanibbida khác nhau. Nibbida là sự nhàm chán, sự yếm ly, sự chán sợ, gọi là nibbida. Còn nibbana là niết bàn. Khổ quá. Các vị nào đọc dùm tôi tiếng Anh, đọc dùm tôi tiếng Đức, đọc dùm tôi bản tiếng Thái coi có phải như vậy không? Cho nên cái chỗ này đây là một nhầm lẫn. Tôi e rằng đây là do nhóm biên tập hoặc của bên chỉnh sửa bản in, cảo bản,... nó mới lòi ra cái bản tiếng Việt như thế này. Và hôm nay nếu chúng ta bất cẩn, chúng ta sẽ phạm thượng tới Hòa thượng dịch giả. Nhưng mà tôi nghi nhóm biên tập, nhóm chấp bút ghi lộn chỗ này. Một sự nhầm lẫn phải nói là cực kỳ nghiêm trọng.

Ở đây quán niệm đau khổ là sao? Là như thế này theo cái bản dịch tiếng Việt: "Trong tất cả các hành, tưởng niết bàn sẽ được an trú trong tôi, ví như kẻ giết người đang đưa dao lên chém". Là chết rồi!

Cái chỗ này bản Pali không có nói như vậy. Bản Pali nói thế này: Sabbasaṅkhāresu ca me nibbida-saññā paccupaṭṭhitā bhavissati, seyyathāpi ukkhittāsike vadhake: "Tôi sẽ chán sợ đối với các hành, đối với vạn hữu giống như một người mà đang nhìn thấy cái kẻ sát thủ mà nó đang giơ gươm lên." Ukkhittāsike: Ukkhitta là giơ lên, mà asi là thanh gươm, Ukkhittāsike là đang giơ gươm lên. "Tôi sẽ chán sợ các hành bằng cái tâm trạng của cái người mà nhìn thấy cái tên sát thủ mà nó đang giơ cái gươm lên", "Tôi sẽ chán sợ các hành như một cái người mà ham sống sợ chết mà nhìn thấy một cái tên sát thủ nó đang giơ cái gươm lên". Nó giơ cái thanh kiếm lên để nó sửa soạn chặt xuống. "Tôi sẽ nhàm chán các hành như là người ta nhìn thấy một tên sát thủ." Bản Pali dịch ra thì như vậy. Mà bây giờ trong bản tiếng Việt thì lại dịch như thế này: "Trong tất cả các hành, tưởng niết bàn sẽ được an trú trong tôi ví như kẻ giết người đang đưa dao lên chém"!!! Các vị tưởng tượng coi nó có động trời không? Trong khi cái bản kia là: "Tôi sẽ chán sợ các hành đối với vạn hữu như người nhìn thấy sát thủ đang đưa thanh kiếm lên", thì nó sáng hơn rất là nhiều.

Kalama xin tri ân bạn elteetee ghi chép


Si | | Lịch Sự

Ngon Lành | | Tiềm miên

English







Kinh Nghiệm Tuệ Quán (tập I)


Để có sách xin liên lạc:

Việt Nam:
☎ Cô Trần Thị Ngọc-Tuyết: 0934183043
Có ship COD qua bưu điện.
☎ Anh Trần Khắc Tuấn: 0906666378
464/22 Hòa Hảo, P. 5, Q. 10, TP. HCM

Mỹ:
☎ Chị Nuôi Bùi: 816-521-8080
(Xin vui lòng để lại tin nhắn khi điện thoại bận)
Địa chỉ : 6318 Mccartney Ln, Garland Tx 75043
✉ Cô Jenni Tran: jennitran433@yahoo.com


Tủ Sách Toại Khanh

zoom || tk || youtube || facebook || bài giảng || suy gẫm || hỏi & đáp
kalama || hình ảnh || sách || english

© www.toaikhanh.com