Nguyện


Thông Báo của Chủ nhiệm trang toaikhanh.com

Xin quý đọc giả đặc biệt lưu ý:
  1. Sư Giác Nguyên không quản lý và hoàn toàn không chịu trách nhiệm về trang toaikhanh.com.
  2. Cao-Xuân Kiên là chủ nhiệm, thiết lập, quản lý, và chịu trách nhiệm cho bất cứ những sai lạc về thông tin bài vở trên trang này.
  3. Khi cần chia sẻ những bài từ trang này chúng tôi kính xin quý vị giữ tên người chép bài và nêu rõ bài có thể bị thiếu sót vì còn là bản nháp chưa được hiệu đính.
  4. Hiện nay toaikhanh.com không có và không liên hệ với bất cứ trang hay nhóm nào trên mạng xã hội facebook.
  5. Nhắn riêng các vị có hảo tâm hỗ trợ cho trang toaikhanh.com kính mong quý vị tiếp tục công trình ghi chép bài giảng của chúng ta.
Xin chân thành cảm ơn quý phật tử.

Cao Xuân Kiên

Chủ nhiệm trang toaikhanh.com
Email: admin@toaikhanh.com


youtube
zoom
tk || bài giảng || suy gẫm || hỏi & đáp || kalama || hình ảnh || sách || english

Nguyện

Ngài Bakkula là đệ nhất vô bệnh.

Cách đây một a-tăng-kỳ, một trăm ngàn đại kiếp, vào thời vị Phật đã thọ ký cho Ngài Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên, có một đạo sĩ sống trong núi. Một ngày kia, ông ta thấy Đức Phật và Chư Tăng vào trong núi để nhập định. Khi thấy Phật với Chư Tăng, ông thương quá cứ đi lại gần hỏi coi có cần gì để ông hộ trì giúp đỡ. Có một điều là sau mấy ngày nhập thiền định trong đó thì trừ Thế Tôn Anomadassì và hai vị đại đệ tử, tất cả Chư Tăng vị nào cũng cảm mạo thời khí ho hen, nhức đầu, sổ mũi, chóng mặt, tiêu chảy, ... Ông đạo sĩ lúc đó ông giỏi thuốc núi lắm, cho nên ông mới bèn ra tay chế thuốc cúng dường cho Chư Tăng. Và sau khi uống thuốc của ông thì Chư Tăng tật bệnh tiêu trừ, khỏe mạnh như cũ, phục hồi khang kiện.

Lúc đó Đức Phật Anomadassì nhìn ông đạo sĩ này, Ngài biết rõ mọi sự về ông, cho nên Ngài mới đưa mắt Ngài nhìn sang một vị Tỳ-kheo đang ngồi xéo xéo Ngài, Ngài nói:

- Thuyết Pháp đi!

Vị đó là một vị A-la-hán Lục thông, Tam minh, Tứ tuệ. Ngài bèn phân tích thuyết Pháp. Ngài thuyết rào rào như là gió thổi mây bay. Xong thời Pháp đó thì ông đạo sĩ mới hỏi riêng một vị Tỳ-kheo khác:

- Vậy chứ cái vị đó là ai mà ghê quá vậy?

Vị đó mới nói:

- À, vị Tỳ-kheo đó là Đệ nhất về vô bệnh!

Nghĩa là ai bệnh chứ vị này không bệnh. Trong số chư Tăng của vị Phật, Ngài là người không bao giờ phải uống thuốc. Trong mấy ngàn người ở rừng này, chỉ có 4 người không uống thuốc của ông, một là Thế Tôn, hai là hai vị đại đệ tử và ba là cái vị đó, cái vị mới thuyết Pháp cho ông đó, không hề uống thuốc. Vị này cả đời không biết một giây nào là cảm mạo thương hàn, đừng nói là đau bao tử, đau tim, cao máu, dư mỡ, hay là cholesterol, tiểu đường gì không có! Một giây bệnh cũng không có!

Ông nghe vậy ông thích quá. Và lạ lắm, cái duyên nó lạ lắm, ông nguyện: Do cái phước mà con đã chế thuốc, hầu Phật, cúng Tăng mấy ngày nay, xin cho con đời đời sinh ra không biết bệnh là gì, cuối cùng thì con cũng sẽ trở thành một vị Tỳ-kheo đệ nhất vô bệnh như vậy. (Vị đạo sĩ này là tiền kiếp của Ngài Bakkula)

Ở đây chúng tôi phải dừng lại một chút. Xin mở ngoặc nói với bà con chuyện này. Nếu không có nói rõ chuyện này, bà con sẽ lấy làm lạ hỏi: "Ủa, tu có nghĩa là mình phải chấp nhận sự thật sanh lão bệnh tử, có đâu mà lại có người nguyện gì kỳ vậy?"

Xin thưa, tất cả những biệt hạnh của các vị đại đệ tử của Phật đều có ý nghĩa sâu sắc và bất khả tư nghì! Vì sao? Tại sao người ta vô bệnh? Là bởi vì người ta phải sống có từ tâm, không làm hại, đầy đọa, làm ai đổ máu, rơi lệ, thì người ta đời sau người ta mới không có bệnh! Còn cái kiểu mà mình cứ quởn quởn là câu cá, quởn quởn là săn bắn, quởn quởn là làm cho người này đau, người kia đau. Tôi nói trong room này các vị đừng có nói với tôi là các vị là tiểu thư, là công tử, là thiếu gia, là nhà giàu rồi các vị không có hiếu sát! Các vị có biết không, chỉ cần sanh ra trong một điều kiện kiểu như là nhà quê, nông thôn ở cái xứ chậm tiến, thì cái chuyện mà câu cá, rồi bắt rắn, bắt chuột, bắt trùng, cái chuyện đó là nó cực kỳ phổ biến và thường xảy ra lắm, các vị biết không? Cái tánh háo sát, cái tánh mà thích làm khổ đọa đày chúng sanh khác, ai ai cũng có hết trơn. Cái tánh mà thích đánh chó, chưởi mèo, cái tánh đó đó, thích chơi nghịch ngợm, làm cho người ta đau, người ta nhột, mấy cái đó là bệnh hoạn trùng trùng! Ngay cái tật mà xả rác, rồi nói ẩu, làm ẩu, các vị biết có không?

Như trong Kinh nói thời Phật Ca-diếp có một vị Tỳ-kheo, đang khi trưa nắng chang chang mình mẩy mồ hôi nhễ nhại đi vô trong Tăng xá, chỗ mà Chư Tăng nghĩ ngơi. Đúng ra là chỗ của các vị tôn túc nhưng vị này vừa mệt, vừa nực nên mới vô đó. Nếu mình biết để ý chút ít thì mình tự thấy mình mẩy dơ hầy thì thôi mình kiếm chỗ nào khác ngồi dựa chút đỉnh, bằng không thì mình đi tắm. Đàng này vị đó mình mẩy hôi rình, mồ hôi, mồ kê nhưng mà nghĩ "Thôi, thây kệ nó, mệt quá, leo lên nằm đại. Cái này của người ta cúng chung cho mấy ông Sư, chứ đâu phải cúng riêng cho ai, mệt quá nằm chút xíu - làm gì không được?" Lúc đó mình mẩy dơ hầy mà lại có cái suy nghĩ nó hơi bất kính như vậy. Chỉ một chút xíu xìu xiu đó thôi, cái suy nghĩ "Kệ nó!" Cái chữ "kệ" này nguy hiểm lắm! Vì cái nghiệp xấu của cái chữ kệ đó đó, nghĩa là người đang dơ mà kệ, leo lên nằm đại, lát sau mình đi rồi ai dính cái dơ tiếp theo ráng chịu! Chỉ có suy nghĩ bất cẩn, biếng lười đó thôi, mà kiếp sau sanh ra làm một con Dạ Xoa mà mình mẩy của nó toàn kim không! Lông lá của nó mỗi một sợi lông là một cây kim! Các vị tưởng tượng kim mà châm đầy người như vậy thì các vị sinh hoạt nó khó khăn lắm. Bởi vì đụng đâu cũng kim hết trơn! Có một lần đó Đức Thế Tôn đi bát, Ngài đi ngang một quảng đường vắng ở Savathi, thì Ngài thấy con Dạ xoa này nó đứng cản đường Ngài, Ngài tránh qua một bên, thì con Dạ xoa này nó hỏi:

- Sa môn sợ ta à?

Thì Ngài nói:

- Không, Như Lai không có sợ ai hết. Nhưng va chạm với cái hình hài đó thì không có nên, vậy thôi!

Tiếng Pali gọi là duphassa; Ngài Minh Châu dịch là "ác xúc". Khi Ngài về, Ngài kể chuyện đó cho Chư Tăng nghe, thì Chư Tăng mới hỏi Thế Tôn vì đâu mà có chúng sanh vừa dị dạng mà vừa chịu khổ hình ghê gớm như vậy? Thì Phật dạy lại cho biết cái đó là từ chuyện xưa như vậy.

Cho nên hôm nay mình ở dơ, mình biếng lười, cũng là một cách gieo cái mầm bệnh, gieo cái mầm khổ thân sau này mà mình không biết. Có nhiều người ngộ lắm, tự nhiên đẻ ra rồi mới có 18 tuổi đã đau lưng. Nhiều người nói là tại vì do trác táng, hay là do sinh hoạt không hợp lý, tư thế không thích hợp. Nhưng mà không đâu. Nhiều người họ bình thường vậy đó nhưng bẩm sinh đẻ ra là họ đã bị đau lưng từ nhỏ. Có nhiều đứa bé nhỏ xíu xiu đã bị tiểu đường rồi! Lạ lắm. Mới nhỏ xíu đã bị đau gan, đau tim bẩm sinh. Có nhiều đứa tim nó nằm ra bên ngoài. Có đứa tim thường phải nằm bên trái nó chuyển qua bên phải nó nằm! Thí dụ như vậy.

Thì do thời xửa thời xưa, mình cũng nghịch ngợm, mình có một cái sơ ý bất cẩn nào đó, mà mình gieo một cái mầm bệnh mà mình không biết. Tôi thí dụ như mình đi đến chỗ tập thể như bên Mỹ các chùa hay có nước chai. Mình thấy cái sức của mình uống nhiều thì mình lấy chai lớn, bằng không mình lấy chai nhỏ mà uống, mà uống cho hết. Còn mình uống không hết thì mình kín đáo mình kiếm mấy cái chỗ có chậu bông mình tưới đặng mình liệng chai không. Còn đằng này mình lại chùa, lại miễu mà mình cứ thấy thích là cứ lấy. Lấy chai to đùng, uống không hết cũng lấy, lấy xong rồi hớp hai hớp, rồi đi bỏ ngang, đặng chi? Đặng khi mình đi rồi, người ta ở chùa người ta ra dọn thấy mấy cái chai mà nước còn thì một là người ta tiếc, hai là người ta cũng hơi gớm gớm, thấy không biết ai uống sao mà làm có mấy ngụm rồi cái bỏ!

Thì việc mình để cho người ta có cái cảm giác gớm đó cũng là một cái duyên nghiệp đời sau sanh ra mình sẽ phải có một hình hài mà ai nhìn cũng gớm! Tin tôi đi! Cái đó Kinh nói! Tức là mình làm cho người ta có cái cảm giác khó chịu, nhột nhột, gớm gớm, hơi rùng mình, thì đời sau sinh ra mình cũng sẽ thường xuyên bị một cái gì đó để mà mình sống trong cái cảm giác mà mình đã cố ý hay là vô tình gây tạo cho người khác!

Khi thấy một hạnh như hạnh vô bệnh, mình phải hiểu ngầm là người này phải có một tâm hồn như thế nào đó, mới đời đời sanh ra được vô bệnh. Cái vị đó đệ nhất về trí tuệ, nghĩa là vị đó phải làm sao đó đời đời sanh ra mới được trí tuệ. Có vị đời đời sanh ra có thiền định, đời đời sanh ra có hạnh ly dục, đời đời sanh ra có phước tài lộc, đời đời sanh ra là có trí nhớ tốt, đời đời sanh ra là thường xuyên tinh tấn, ... thí dụ như vậy. Thì chính vì cố ý thành Phật người ta mới đệ nhất cái này, đệ nhất cái kia chứ! Có nghĩa là mỗi cái biệt hạnh là một khía cạnh của thiện pháp mà mình đã huân tu tích lũy nhiều đời!

Tất cả đệ tử của Đức Thế Tôn, hạnh gì không cần biết, số 1, số 2 với ai nhưng mà so với Ngài thì họ phải đứng sau! Cho nên trong Kinh nói Ngài Ca-diếp Ngài sống trong núi, trong rừng vậy đó, mà lâu lâu Ngài về gặp Phật, Ngài cũng quỳ lạy sát đất, vì sao? Vì Ngài biết rằng tuy Ngài là 13 hạnh đầu đà, Ngài cả đời chỉ ăn trong bình bát, cả đời chỉ mặc y lượm ngoài đống rác, ngoài tha ma, cả đời sống không mái che. Còn Thế Tôn thì ngược lại. Cái gì cũng hơn Ngài hết: sống sung sướng trong mái che, hương thất thơm phức, rồi ăn được người ta cúng dường trong hoàng cung, trong dinh thự nguy nga. Nhưng mà Ngài biết rằng cái con người đó chỉ là giọt nước trên lá sen, đúng là cư trần bất nhiễm, Ngài biết tuy Thế Tôn thấy gọn gàng sạch đẹp trong chỗ chiếu cao, giường rộng như vậy, nhưng mà lòng của vị này hoàn toàn như là pha lê, như là kim cương! Đó là đệ nhất đầu đà, mà vẫn một lòng kính tin Đạo Sư của mình.

Ngài Xá-lợi-phất từ khi nguyện thành đệ nhất trí tuệ thì sao? Đời đời sanh ra có một thói quen đặc biệt, gặp ai thì cũng có chuyện hay ho để hỏi, hỏi để học, hỏi để trao đổi. Đệ nhất thiên nhãn là sau khi nguyện thành đệ nhất thiên nhãn, thì cứ đời đời sanh ra là có thói quen thích làm phước gì mà liên hệ tới mắt, đến ánh sáng, thích cúng dường đèn, thích giúp người ta chữa bệnh mắt, tức là nguyện rồi thì đời đời sinh ra thích như vậy.

Trích bài giảng Kinh Tăng Chi số 006
Kalama xin tri ân bạn sumanaduong ghi chép

Ngài Trưởng lão Bakkula

I. Gia thế:

Trước khi Đức Thế Tôn xuất hiện trên thế gian, tại thành Kosambi, gia đình vị Tế sư nọ ở Kosambi có một đứa con trai. Một hôm, người vú nuôi bồng đứa bé ra bờ sông Yamunā để tắm, vì theo quan niệm Bà-la-môn thì khi tắm nước của dòng sông này sẽ được sức khỏe. Bất ngờ, có một con cá kình rất lớn vồ lên và nuốt mất đứa bé từ trong tay người vú nuôi.

Con cá đó không bao lâu sau thì bị một ngư phủ câu được và đem vào thành Bāranasī bán. Lúc bấy giờ, phu nhân của vị Tế sư đi chợ ngang qua liền thấy con cá quá to nên muốn mua về. Khi về đến nhà, lúc mổ bụng để làm thịt thì thấy có một đứa bé nằm trong bụng con cá. Biết đứa bé còn sống nên ông bà nhận đứa bé làm con nuôi của mình. Đây cũng là phần phước duyên của một vị đã tạo đủ Ba-la-mật để chứng đắc A-la-hán trong kiếp này.

Nói về gia đình vợ chồng ông trưởng giả ở thành Kosambi, hai ông bà rất đau khổ khi bị mất đứa con yêu quý và vẫn nuôi hy vọng đứa bé vẫn còn sống nên cho người đi dò la tung tích khắp mọi nơi. Chẳng bao lâu thì được tin báo con trai mình vẫn còn sống và hiện đang ở Bāranasī, hai ông bà liền đi đến đó xin nhận lại đứa con trai nhưng gia đình cha mẹ nuôi không đồng ý. Sự việc không được thỏa thuận nên trình lên đức vua. Đức vua nghe xong câu chuyện liền phán rằng: “Cả hai gia đình đều có công và yêu mến đứa bé, vậy đứa bé là con của cả hai gia đình, sau này sẽ thừa tự tài sản của hai gia đình”. Do sự kiện đó, đứa bé được đặt tên là Bakkula, nghĩa là người của hai gia đình.

Đứa bé lớn lên trong sự chăm sóc và giáo dục của hai gia đình. Về sau được thừa tự 800 triệu đồng tiền vàng Kahāpaṇa. Hiển nhiên trở thành một vị trưởng giả giàu có với sự nghiệp gia tài đồ sộ lúc đương thời.

II. Xuất gia:

Hưởng thụ mọi thú vui thế gian suốt 80 năm, trưởng giả Bakkula không hề biết đến bệnh là gì. Nhưng do duyên lành đã tròn đủ, một hôm, sau khi được nghe Đức Thế Tôn thuyết pháp đã khởi niềm tin và muốn được đi xuất gia trong giáo pháp.

Vì xuất gia lúc tuổi cao nên Tỳ-khưu Bakkula nỗ lực phát triển sức mạnh của thiền quán Vipassanā nên chỉ sau 7 ngày từ khi xuất gia, vào ngày thứ 8, Tỳ-khưu Bakkula đã chứng đạt được tất cả các pháp thượng nhân của một bậc thinh văn A-la-hán (Tam minh, Lục thông, Tứ tuệ phân tích).

Ngài là một trong bốn vị đại đệ tử có đại thần thông thuộc hàng thâm hậu nhất trong các vị đệ tử (bốn vị đó là Tôn giả Sāriputta, Tôn giả Moggallāna, Tôn giả Bakkula và Trưởng lão Ni Yasodharā).

Trong cuộc đời xuất gia của ngài, Tôn giả Bakkula có nhiều đặc hạnh rất đặc biệt, một vài ví dụ điển hình như là:

– Không bao giờ khởi lên dục tưởng.
– Không bao giờ khởi lên sân tưởng.
– Không bao giờ khởi lên dục tầm.
– Không bao giờ khởi lên sân tầm, não hại tầm.
– Không bao giờ nhận y của cư sĩ.
– Không bao giờ may y Kaṭhina.
– Không bao giờ nhận lời mời đi thọ thực.
– Không bao giờ thuyết pháp cho nữ nhân.
– Không bao giờ thuyết pháp cho Tỳ-khưu ni, sa di ni, học nữ.
– Không bao giờ làm thầy tế độ cho vị nào xuất gia.
– Không bao giờ làm thấy yết ma hoặc thầy y chỉ.
– Không bao giờ nhờ vị sa di nào phục dịch mình.
– Không bao giờ có tật bệnh.
– Không bao giờ nằm dựa vào tấm gỗ.
– Không bao giờ nằm dài mà ngủ.

Ngài còn được Đức Thế Tôn tán dương là một vị Thinh văn đệ nhất về hạnh vô bệnh trong hàng đệ tử.

Và cũng có lẽ, Ngài là một vị thánh đệ tử có tuổi đời và tuổi hạ cao nhất trong Phật giáo. Ngài xuất gia năm 80 tuổi, hạ lạp được 80 hạ, Ngài viên tịch Níp-bàn năm 160 tuổi.

III. Tiền thân:

Vào thời kỳ Đức Phật Anomadassī, Ngài sanh ra trong một gia đình Bà-la-môn nhưng sau đó đi vào rừng xuất gia làm đạo sĩ, rồi chứng đạt được bát thiền ngũ thông. Khi biết được Đức Phật đang thuyết pháp độ đời thì đạo sĩ liền đi đến nghe pháp. Sau khi nghe pháp đã phát khởi niềm tin và đã xin quy y Tam bảo. Một lần nọ, đạo sĩ biết Đức Thế Tôn bị bệnh đau bụng nên liền đến dâng thuốc cho Ngài sử dụng. Với phước báu đó, đạo sĩ phát nguyện trong vòng luân hồi sẽ trở thành một người vô bệnh.

Vào thời kỳĐức Phật Padumuttara, Ngài sanh ra trong một gia đình giàu có tại thành Haṃsavatī. Một hôm, đi đến tịnh xá nghe Đức Thế Tôn thuyết pháp thì thấy được Đức Thế Tôn đang tán dương một vị Tỳ-khưu có đặc hạnh đệ nhất về sự vô bệnh trong hàng Thinh văn đệ tử. Chàng thanh niên đó hoan hỷ nên đã thỉnh Đức Phật cùng chư Tăng đến tư gia làm phước cúng dường. Sau khi làm phước, chàng quỳ trước Đức Phật và phát nguyện muốn trở thành vị Thinh văn đệ tử đệ nhất về hạnh vô bệnh trong thời của Đức Phật vị lai.

IV. Kệ ngôn của Ngài Bakkula:

“Với ai những công việc
Cần phải làm từ trước
Về sau vị ấy mới
Có ý định muốn làm
Vị ấy tự phá hoại
Căn cứ địa an lạc
Về sau chịu khổ đau
Trong nung nấu hối tiếc”. (225)
“Hãy nói điều có làm
Không nói điều không làm
Bậc hiền trí biết rõ
Người chỉ nói, không làm”. (226)
“Níp bàn nhiệm màu lạc
Bậc Chánh Giác thuyết giảng
Không sầu muộn là tham
Thật sự là an ổn
Tại đấy, sự đau khổ
Được đoạn diệt hoàn toàn”. (227)

Tài liệu tham khảo:

1. Trung Bộ Kinh quyển II (HT Thích Minh Châu dịch Việt), bài kinh số 124 – Bakkulasutta.
2. Tiểu Bộ Kinh quyển III (HT Thích Minh Châu dịch Việt), Trưởng Lão Tăng Kệ, câu kệ ngôn 225, 226, 227.
3. Lời Truyền Kỳ Bậc Thánh (TT Thiện Phúc dịch Việt).

https://spunno.wordpress.com/2011/09/30/truong-lao-bakkula-de-nhat-hanh-vo-benh-dinh-phuc/


Biết Thiếu | | Vô Hữu Duyên

Quả Xấu Nhân Lành | | 8 giới, 5 căn, 6 căn

English







Từ Điển Pali


Để có sách xin liên lạc:

Việt Nam:
☎ Cô Trần Thị Ngọc-Tuyết: 0934183043
Có ship COD qua bưu điện.
☎ Anh Trần Khắc Tuấn: 0906666378
464/22 Hòa Hảo, P. 5, Q. 10, TP. HCM

Mỹ:
☎ Chị Nuôi Bùi: 816-521-8080
(Xin vui lòng để lại tin nhắn khi điện thoại bận)
Địa chỉ : 6318 Mccartney Ln, Garland Tx 75043
✉ Cô Jenni Tran: jennitran433@yahoo.com


Tủ Sách Toại Khanh

zoom || tk || youtube || facebook || bài giảng || suy gẫm || hỏi & đáp
kalama || hình ảnh || sách || english

© www.toaikhanh.com